Ngân hàng trước đón mùa báo báo lãi: Ôm cổ phiếu 'vua' vẫn chưa chắc thắng

Những ngân hàng được cấp hạn mức tín dụng cao, sở hữu nguồn vốn giá rẻ và có khả năng ổn định biên lãi ròng được kỳ vọng tiếp tục tăng trưởng. Tuy nhiên, định giá giữa các cổ phiếu đã giãn rộng, trong khi áp lực thanh khoản, chi phí dự phòng và kế hoạch phát hành thêm cổ phiếu có thể khiến lợi nhuận tăng chưa chắc kéo cả nhóm đi lên.

Không còn một "cơn sóng ngân hàng" đồng nhất

Tổng vốn hóa của 27 cổ phiếu ngân hàng niêm yết đạt khoảng 2,734 triệu tỷ đồng vào cuối tháng 6. Sáu ngân hàng lớn nhất gồm VCB, BID, CTG, TCB, VPB và MBB chiếm khoảng 62,5% tổng vốn hóa ngành. 10 ngân hàng lớn nhất chiếm hơn 82%.

Diễn biến giá từ đầu năm đến giữa tháng 7 cho thấy mức độ phân hóa lớn. LPB và MSB cùng tăng hơn 30%, STB tăng trên 21%, ACB tăng khoảng 10%. Ngược lại, HDB, TPB, TCB, VPB, VIB, CTG và MBB đều giảm so với đầu năm; SHB mất hơn 22%.

Dòng vốn tổ chức cũng đi theo hướng chọn lọc. GTJA ước tính khối ngoại bán ròng gần 3 tỷ USD trên toàn thị trường trong nửa đầu năm. Tuy nhiên, các quỹ đầu tư trong nước đã quay lại mua ròng cổ phiếu ngân hàng trong tháng 5, với VPB, VCB, HDB, SHB và LPB nằm trong nhóm được ưu tiên. OCB, MBB, STB và VIB bị giảm tỷ trọng.

Hoạt động tái cơ cấu ETF trong tháng 7 còn có thể tạo thêm biến động. TPB được dự báo chịu áp lực bán lớn, trong khi TCB, VPB và SHB có thể nhận được lượng mua kỹ thuật ở mức vừa phải.

Như vậy, cổ phiếu ngân hàng hiện không chỉ vận động theo lợi nhuận thực tế hay kỳ vọng kết quả quý II. Giá cổ phiếu còn chịu ảnh hưởng bởi điều chỉnh dự báo, dòng vốn tổ chức, tái cơ cấu ETF và các kế hoạch huy động vốn riêng.

Bối cảnh kinh tế vĩ mô đang hỗ trợ nhu cầu tín dụng. GDP Việt Nam tăng 8,18% trong nửa đầu năm 2026, sản xuất công nghiệp tăng 10,8%, còn tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 12,89%.

Tín dụng toàn hệ thống cũng tăng tốc. Đến cuối tháng 3, dư nợ tăng 3,18% so với cuối năm 2025. Đến cuối tháng 6, mức tăng được ghi nhận trong khoảng 7,14-7,41%, tùy thời điểm thống kê.

Vấn đề là tín dụng đang tăng nhanh hơn huy động vốn. Theo GTJA, dư nợ cho vay tại 27 ngân hàng niêm yết tăng 3,58% trong quý I, trong khi vốn huy động chỉ tăng khoảng 0,6%. MBS cho rằng tình trạng này tiếp tục kéo dài sang quý II, khiến biên lãi ròng toàn ngành vẫn có nguy cơ thu hẹp so với cùng kỳ.

Áp lực thanh khoản từng xuất hiện trở lại vào cuối tháng 6, khi lãi suất qua đêm trên thị trường liên ngân hàng có thời điểm lên 6,2%. Ngân hàng Nhà nước phải tiếp tục bơm vốn thông qua nghiệp vụ thị trường mở.

Cổ phiếu ngân hàng bước vào mùa công bố kết quả kinh doanh quý II/2026 với triển vọng lợi nhuận khá tích cực. Ảnh: Samco

Chính sách tiền tệ đã phần nào giảm bớt sức ép. Khoảng 26 ngân hàng thương mại đã thống nhất giảm lãi suất huy động từ 0,1 đến 0,5 điểm phần trăm, chủ yếu ở các kỳ hạn từ sáu tháng trở lên. Tuy nhiên, mặt bằng lãi suất đến đầu tháng 7 mới chỉ ổn định, chưa giảm sâu.

Thông tư 25/2026/TT-NHNN, có hiệu lực từ ngày 1/7, nâng tỷ lệ tối đa vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung và dài hạn từ 30% lên 40%. Quy định mới được kỳ vọng hỗ trợ những ngân hàng có tỷ trọng cho vay doanh nghiệp và trung, dài hạn lớn như VCB, MBB, VPB, BID, CTG và TCB.

Các ngân hàng sớm triển khai Basel III như VIB, TCB, ACB, VPB, HDB, TPB và OCB cũng có thể linh hoạt hơn trong sử dụng vốn và bảo vệ biên lãi. Tuy nhiên, chất lượng tài sản vẫn là điểm cần theo dõi.

BSC cho biết, tỷ lệ nợ xấu toàn hệ thống tăng lên 1,88% trong quý I, trong khi nợ nhóm 2 tăng 12% so với quý trước. MBS dự báo chi phí dự phòng của ngành trong quý II tăng khoảng 19% so với cùng kỳ.

Nhóm nào có khả năng tăng trưởng nổi bật?

MBS dự báo lợi nhuận sau thuế của nhóm ngân hàng trong phạm vi theo dõi tăng khoảng 15% trong quý II và 16% trong sáu tháng đầu năm. Thu nhập lãi thuần có thể tăng 15,7%, thu nhập ngoài lãi tăng 11,3%, trong khi chi phí dự phòng tăng 19%.

Trong nhóm ngân hàng quốc doanh, Vietcombank tiếp tục có hồ sơ chất lượng tài sản tốt nhất. Tỷ lệ nợ xấu quý I chỉ 0,62%, còn tỷ lệ bao phủ nợ xấu đạt hơn 253%. Lợi nhuận trước thuế quý II được dự báo tăng 16%, nhờ chi phí vốn thấp hơn và cơ cấu cho vay được cải thiện.

Dù vậy, VCB đang giao dịch ở mức P/B dự phóng khoảng 1,9 lần, cao nhất trong nhóm ngân hàng lớn. Mức định giá này đã phản ánh đáng kể lợi thế về chất lượng tài sản và nguồn vốn.

VietinBank có thể là lựa chọn chiến thuật đáng chú ý hơn. MBS dự báo lợi nhuận trước thuế sáu tháng đạt khoảng 24.900 tỷ đồng, tăng 31,7%, trong khi lợi nhuận quý II tăng gần 14%.

Dự báo trên chưa bao gồm khoản thu nhập có thể phát sinh từ việc chuyển nhượng VietinBank Tower. Nếu thương vụ được ghi nhận, CTG có thể vượt kỳ vọng. Ngay cả khi không có khoản thu bất thường, kết quả cốt lõi vẫn được đánh giá tích cực. CTG hiện giao dịch quanh P/B dự phóng 1,3 lần, với ROE ước đạt 20,4%.

BIDV được dự báo tăng lợi nhuận trước thuế khoảng 15%, đạt gần 9.900 tỷ đồng trong quý II. Động lực đến từ tín dụng SME, bán lẻ và thu hồi nợ. Tuy nhiên, NIM của BID vẫn thấp và bộ đệm dự phòng mỏng hơn VCB, CTG.

Trong nhóm ngân hàng tư nhân, VPBank và HDBank được dự báo có tốc độ tăng trưởng cao nhất. Lợi nhuận trước thuế quý II của VPB có thể đạt khoảng 9.374 tỷ đồng, tăng 51%. HDB có thể ghi nhận hơn 7.000 tỷ đồng, tăng khoảng 50%. Hai ngân hàng được hỗ trợ bởi hạn mức tín dụng cao và lợi ích từ việc tham gia nhận chuyển giao bắt buộc tổ chức tín dụng yếu kém.

Tuy nhiên, tỷ lệ bao phủ nợ xấu của VPB và HDB chỉ ở mức khoảng 50-53%, thấp hơn nhiều so với các ngân hàng có chất lượng tài sản hàng đầu. Tốc độ tăng trưởng cao vì vậy đi cùng rủi ro về chi phí tín dụng và khả năng kiểm soát nợ xấu.

MBB và TCB có trạng thái cân bằng hơn giữa tăng trưởng, định giá và chất lượng tài sản. Lợi nhuận trước thuế quý II của hai ngân hàng đều được dự báo tăng khoảng 18%. Cả MBB và TCB đều sở hữu tỷ lệ CASA cao, giúp duy trì lợi thế chi phí vốn. P/B dự phóng của hai cổ phiếu chỉ khoảng 1,2 lần. Giá cổ phiếu từ đầu năm chưa tăng mạnh, cho thấy kỳ vọng lợi nhuận chưa bị phản ánh hoàn toàn.

ACB vẫn nổi bật nhờ bảng cân đối lành mạnh, tỷ lệ nợ xấu dưới 1% và bộ đệm dự phòng tốt. Tuy nhiên, lợi nhuận quý II được dự báo đi ngang do nền so sánh cao của năm trước. Cổ phiếu phù hợp hơn với chiến lược nắm giữ chất lượng dài hạn, thay vì kỳ vọng bứt phá ngay trong mùa báo cáo.

STB và LPB lại là hai trường hợp cho thấy giá cổ phiếu có thể vận động khác xa kết quả kinh doanh. Lợi nhuận trước thuế quý II của Sacombank được dự báo giảm 67%, trong khi tỷ lệ nợ xấu thuộc nhóm cao nhất trong các ngân hàng lớn. Tuy nhiên, cổ phiếu STB vẫn tăng hơn 21% từ đầu năm, phản ánh kỳ vọng vào quá trình tái cơ cấu và xử lý tài sản tồn đọng.

LPBank cũng được dự báo lợi nhuận quý II giảm 6%, lợi nhuận sáu tháng giảm 9%. Dù vậy, giá LPB đã tăng hơn 30%, còn P/B nằm trong nhóm cao nhất ngành.

MSB có triển vọng lợi nhuận tích cực hơn, với mức tăng quý II được dự báo khoảng 48% và khả năng ghi nhận thêm thu nhập từ thu hồi nợ, hoàn nhập dự phòng trong nửa cuối năm. Tuy nhiên, cổ phiếu đã tăng hơn 30%, đồng nghĩa một phần đáng kể kỳ vọng đã được phản ánh vào giá.

Mức độ phân hóa định giá hiện quá lớn để có thể nhận định chung rằng cổ phiếu ngân hàng đang rẻ. P/B của các ngân hàng niêm yết dao động từ dưới 0,9 lần đến gần 3 lần.

Xem thêm tại vietnamfinance.vn